Hằng năm Ngân hàng thương mại phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập để kiểm toán những nội dung nào?

image_pdfimage_print

Hằng năm Ngân hàng thương mại phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập để kiểm toán những nội dung nào?

Hằng năm Ngân hàng thương mại phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập để kiểm toán những nội dung nào? Ai có thẩm quyền lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập đối với Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần? Câu hỏi của chị N từ Bình Định.

Hằng năm Ngân hàng thương mại phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập để kiểm toán những nội dung nào?

Căn cứ khoản 1 Điều 2 Thông tư 39/2011/TT-NHNN quy định như sau:

Đối tượng áp dụng

1. Tổ chức tín dụng bao gồm:

a) Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã (sau đây gọi là ngân hàng);

b) Tổ chức tín dụng phi ngân hàng;

c) Tổ chức tài chính vi mô;

d) Quỹ tín dụng nhân dân có tổng tài sản từ 50 tỷ đồng trở lên tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm liền kề trước năm kiểm toán.

Các quỹ tín dụng nhân dân khác thực hiện kiểm toán độc lập theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước.

Đồng thời, căn cứ Điều 4 Thông tư 39/2011/TT-NHNN và Điều 2 Thông tư 24/2021/TT-NHNN quy định:

Phạm vi kiểm toán

1. Định kỳ hằng năm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập theo quy định của Thông tư này để kiểm toán độc lập:

a) Báo cáo tài chính;

b) Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.

3. Việc kiểm toán báo cáo tài chính bán niên, báo cáo quyết toán dự án hoàn thành và các công việc kiểm toán khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (nếu có) thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

Theo đó, định kỳ hằng năm, Ngân hàng thương mại phải lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập để kiểm toán độc lập đối với:

– Báo cáo tài chính;

– Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước khuyến khích Ngân hàng thương mại sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập để kiểm toán đối với các hạn chế nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình.

Ai có thẩm quyền lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập đối với Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần?

Thẩm quyền lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập được quy định tại Điều 7 Thông tư 39/2011/TT-NHNN như sau:

Thẩm quyền lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập

1. Hội đồng thành viên quyết định lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn.

2. Đại hội đồng cổ đông quyết định hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định (đối với trường hợp Điều lệ của tổ chức tín dụng có quy định) lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán tổ chức tín dụng là công ty cổ phần.

3. Đại hội thành viên quyết định hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định (đối với trường hợp Điều lệ của tổ chức tín dụng có quy định) lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán tổ chức tín dụng là hợp tác xã.

4. Tổng giám đốc (Giám đốc) quyết định lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đồng thời, căn cứ Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định:

Hình thức tổ chức của tổ chức tín dụng

1. Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.

Như vậy, đối với Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần thì Đại hội đồng cổ đông quyết định hoặc ủy quyền cho Hội đồng quản trị quyết định (đối với trường hợp Điều lệ của Ngân hàng thương mại có quy định) lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập.

Kết quả kiểm toán độc lập đối với Ngân hàng thương mại gồm những gì?

Kết quả kiểm toán độc lập đối với Ngân hàng thương mại được quy định tại Điều 10 Thông tư 39/2011/TT-NHNN (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Thông tư 24/2021/TT-NHNN) như sau:

Kết quả kiểm toán độc lập

1. Kết quả kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm:

a) Báo cáo kiểm toán;

b) Thư quản lý và các tài liệu, bằng chứng liên quan.

2. Báo cáo kiểm toán đối với báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập, chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Báo cáo kiểm toán đối với hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tối thiểu phải đánh giá được tình hình tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá được tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống này trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và các mục tiêu khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với nội dung quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 8 Thông tư này.

Như vậy, theo quy định, kết quả kiểm toán độc lập đối với Ngân hàng thương mại bao gồm:

– Báo cáo kiểm toán;

– Thư quản lý và các tài liệu, bằng chứng liên quan.